Tác phẩm nghệ thuật có giá trị? Quyết nghị đề ra nhiệm vụ nâng cao chất lượng, hiệu quả của hoạt động văn học nghệ thuật là: “...Tạo mọi điều kiện cho sự tìm tòi, sáng tạo của hàng ngũ văn nghệ sĩ để có nhiều tác phẩm có giá trị tư tưởng và nghệ thuật, thấm nhuần ý thức nhân văn, dân tộc, dân chủ, tiến bộ, phản chiếu chân thật, sinh động, sâu sắc đời sống, lịch sử dân tộc và công cuộc đổi mới đất nước”, tức thị nhấn mạnh đến yếu tố quyết định tới chất lượng của văn chương nghệ thuật là “hàng ngũ văn nghệ sĩ”. Ở đây cần nhắc lại thế nào một tác phẩm nghệ thuật có giá trị theo quan niệm của nhà văn nghệ cách mạng tiền phong Hồ Chí Minh. Hồi còn ở Chiến khu Việt Bắc, một lần Người nói với họa sĩ Phan Kế An về ký họa. Theo Người, ký họa có thể đăng báo phục vụ quần chúng là phải “giản dị và có thần” (Những chuyện vui và cảm động về Hồ Chủ tịch. Nxb Công an nhân dân, 2000, tr 232). Tả thần, các cụ ta xưa gọi là phép đại bút, tức không đi vào chi tiết cụ thể mà tả đối tượng bằng một phép đại quát nhất, phải chọn cái chủ chốt, tinh túy nhất, khả năng gợi tả cao nhất về cái toàn thể. “Giản dị và có thần”, đấy là tiêu chuẩn, là nội dung và cũng là cái đích đi tới của nghệ thuật. Hai vấn đề này hoàn toàn hợp nhất, giản dị nhưng phải có thần thì có tức là sự giản dị phải vượt qua sự bình thường để đi tới cái phi thường. Rõ ràng, Bác quan niệm về một nghệ thuật đại chúng nhưng không dài dòng, đơn giản mà phải vừa giản dị dễ hiểu nhưng phải hay, đặc sắc, độc đáo.
Để có một tác phẩm nghệ thuật như vậy, người nghệ sĩ phải trở về với cuộc sống quần chúng. Cuộc sống ấy vừa là cái nôi, là mảnh đất mỡ màu, vừa là cảm hứng, vừa là đối tượng sáng tạo của nghệ thuật. Bất kỳ một nghệ thuật chân chính nào, trước nay cũng đều bắt nguồn từ đời sống, phản ảnh và phục vụ đời sống. Và như vậy mới có thể làm tròn sứ mệnh “soi đường cho quốc dân đi”. Cái đẹp nằm trong cuộc sống, là bản thân cuộc sống. Người nghệ sĩ phải đi tìm cái đẹp trong cuộc sống để khám phá, sáng tạo. Năm 1960, Bác Hồ kêu gọi: “Văn hóa phải thiết thực phục vụ dân chúng, góp phần vào việc nâng cao đời sống vui tươi, lành mạnh của quần chúng. Cho nên, nội dung văn hóa phải có ý nghĩa giáo dục… Văn hóa phải gắn liền với cần lao sản xuất. Văn hóa xa cách đời sống, xa cần lao là văn hóa suông” (Hồ chủ toạ với một vài vấn đề văn hóa, văn nghệ-Nxb sự thực, 1965, tr. 107, 108). Tạo điều kiện cho văn nghệ sĩ thâm nhập thực tiễn Bữa nay văn nghệ của ta có gắn liền với lao động sản xuất không? Có gần với đời sống không? Câu giải đáp là: Chưa. Một đề tài thường gặp của văn học nghệ thuật bữa nay là gì? Là tình, dục tình, tiền vàng, là chuyện cướp bóc, tù đày, là những nghĩ suy quẩn quanh, vụn vặt… Những cái đó đều là đời sống, thuộc về đời sống nhưng dứt khoát không phải là điều cơ bản, không phải là ý nghĩa mang tầm thời đại, không phải là hơi thở của thời đại bữa nay. Hướng văn nghệ đi theo quỹ đạo đổi mới vì đích nhân văn: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, làm biển quảng cáo tại hà nội công bằng, văn minh”, chính Bác Hồ đã gợi ý cho ngày bữa nay: “…các nhà văn hóa ta cần tổ chức chặt chẽ và đi sâu vào dân chúng”. Trong những năm kháng chiến, các văn nghệ sĩ đã “đi sâu vào quần chúng” bằng những chuyến đi thực tế dài ngày, nhờ đó họ có những tác phẩm để đời. Nhưng bữa nay chúng ta ít có cách xâm nhập thực tại rất căn bản, cấp thiết ấy. Chủ nghĩa Mác quan niệm hiện thực là nguồn gốc của nhận thức. Văn nghệ là một hình thái ý thức nên càng phải cắm sâu vào mảnh đất hiện thực để hút lấy chất dinh dưỡng của cuộc thế. Thoát ly hiện thực, nghệ thuật cố định khô héo. Vậy thì một trong những cách để thúc đẩy sự phát triển của văn chương nghệ thuật hôm nay là tạo điều kiện cho văn nghệ sĩ xâm nhập thực tiễn, càng nhiều càng tốt, càng sâu càng hay. Chỉ có từ đời sống, bắt nguồn từ đời sống mới có thể nảy nở những tuấn kiệt. Không có cách nào khác, muốn rèn luyện nhân tài thì người nghệ sĩ phải trở về cái gốc của nghệ thuật là đời sống muôn màu muôn vẻ kia. Để phát hiện những khiếu, điều kiện cần có của nhân kiệt cũng phải tìm từ đời sống. Trong lịch sử văn hóa nhân loại cũng chưa có hào kiệt nghệ thuật nào không được gieo hạt, nảy mầm, bắt rễ, lớn lên, trưởng thành từ cái nôi đời sống. Nhà văn lớn Nam Cao từng nhắc nhỏm chính mình “Sống đã rồi hãy viết”. Các cây đại thụ văn học thế giới, trước khi có những trước tác khổng lồ, họ cũng đều là những người lăn lộn với cuộc đời: Lỗ Tấn từng là một bác sĩ, du học ở Nhật Bản và đi rất nhiều nơi trên đất Trung Hoa rộng lớn; Sê-khốp vốn là một viên chức ngành y đã làm một cuộc vạn lý vượt Xi-bê-ri bát ngát đến tận đảo Xa-kha-lin; Goóc-ki đi hầu khắp nước Nga; để trở nên một tiểu thuyết gia, Đích-ken trước đó làm nghề ghi tốc ký ở Nghị viện Anh, nhờ đó mà hiểu sâu sắc đời sống các chính khách; các nhà văn Nga thế kỷ XIX như: Pu-skin, Léc-môn-tốp, Nhê-cra-xốp, L.Tôn-xtôi… đều đã từng tham dự đương đầu chống chế độ nông nô và phải đi khổ sai, tù đày… Lý giải tại sao các nhà văn thời Phục hưng có những tác phẩm vĩ đại mang tầm nhân loại, Ăng-ghen viết: “Điều làm cho họ đặc biệt nổi bật là ở chỗ hầu hết họ đều hòa mình vào phong trào của thời họ, vào cuộc đấu tranh thực tiễn; họ tham dự chính đảng, tham gia chiến đấu, người thì dùng lời nói và cây bút, người thì dùng kiếm và thường là dùng cả hai”. Cách giảng giải của Ăng-ghen hoàn toàn có thể cắt nghĩa sự thành công của các nhà văn Việt Nam trước nay: Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Chí Minh, Nam Cao, Nguyễn Minh Châu, Phạm Tiến Duật,… Bác Hồ rất chú trọng vấn đề chủ thể tinh khiết tạo nghệ thuật và luôn nhắc các nghệ sĩ phải luôn chũm tăng cường bồi bổ, giáo dục, ý thức tư tưởng chính trị liền tù tù. Có thể ví phẩm chất chính trị và nhân tài (mà Người đại quát thành hai phạm trù “tài, đức” của người cán bộ cách mạng nói bien quang cao chung) như hai cánh của con chim, thiếu một cánh, chim không thể bay được, một cánh yếu, một cánh khỏe chim cũng không thể bay được xa. Chúng ta phải chính trực dìm đang có tình trạng buông lỏng vấn đề này. Một số đơn vị nghệ thuật còn coi nhẹ việc giáo dục chính trị tư tưởng cho văn nghệ sĩ, quan niệm phiến diện, coi đó chỉ là vấn đề hình thức, còn chuyên môn mới là quyết định. Lại có thể ví cấu trúc nhân cách của người nghệ sĩ như một ngôi nhà thì tinh thần văn hóa chính trị lại là nền tảng. Nền tảng ý thức vững thì ngôi nhà thiên tài mới có thể cao to, đẹp đẽ được. Tại sao vậy? Vì tác phẩm văn chương nghệ thuật là một sản phẩm văn hóa ý thức đặc thù được cấu thành bởi các giá trị tinh thần đặc biệt của người nghệ sĩ, trong đó phải có hai thành tố quan yếu là nhiệt huyết và tuấn kiệt. Nhân tài nghệ thuật luôn là hiếm hoi, bởi không chỉ có chuyên cần mà phải có khiếu mới tạo tiền đề để có một con người nghệ sĩ. Hiếm thành thử quý. Bởi thế, rất cần tạo ra một cơ chế riêng ưu đãi cho giới nghệ sĩ. Nghệ sĩ luôn sống bằng cái tôi, trọng, tôn trọng cái tôi. Rất cần tạo ra một môi trường cái tôi đặc thù của nghệ sĩ phát triển lành mạnh. Nhưng nghệ sĩ cũng là một công dân, dù có tự do trong cái tôi thì vẫn phải ý thức được nghĩa vụ công dân của mình. Lại có một thực tế: Có số ít nghệ sĩ nức tiếng ở ta sống vương giả hơn cả tỷ phú ở các nước phát triển, xe hơi hàng chục tỷ đồng, ở nhà hàng trăm tỷ đồng, đôi dép hàng trăm triệu đồng… Họ phong lưu bởi thu nhập đồ sộ, hát một bài được trả hàng chục triệu đồng! Nếu cứ tình trạng này tiếp diễn thì đó là một cách giết chết người nghệ sĩ bởi tiền bạc sẽ làm cho cái tôi người nghệ sĩ tách biệt quá xa với đồng loại. Xa cách cuộc sống thì nghệ thuật ngay tức khắc úa héo. Bài 2: Điểm tựa là truyền thống văn hóa dân tộc PGS, TS, Nhà văn NGUYỄN thanh thản |
Chủ Nhật, 10 tháng 8, 2014
Bài 1: Văn nghệ sĩ phải đắm mình trong cuộc sống nhân dân
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét